MỐI QUAN HỆ GIẢNG VIÊN - SINH VIÊN TRONG MÔI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

MỐI QUAN HỆ GIẢNG VIÊN - SINH VIÊN TRONG MÔI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

 

Lê Thị Xuân

Bộ môn nguyên lý của Chủ Nghĩa Mác - Lênin

 

1. Đặt vấn đề

Trong môi trường đại học, mối quan hệ giảng viên và sinh viênđược coi là mối quan hệ tập trung nhất, xuyên suốt trong quá trình dạy và học.Mối quan hệ này là một phạm trù tinh thần, hàm chứa tính đa dạng và phức tạp, liên quan trực tiếp đến chất lượng giáo dục toàn diện.Vì vậy, việc giải quyết tốt mối quan hệ giảng viên và sinh viênthực chất là cơ bản đã giải quyết được mục tiêu đào tạo, góp phần to lớn trong việc hoàn thiện nhân cách sinh viên.

Hin nay, vi sphát trin mnh mca kinh tế, khoa hc công nghệ, đặc bit là sbùng ncông nghthông tin, đã to sự thay đổi ln trong cuc sng con người nói chung cũng như trong giáo dục nói riêng. Người giảng viên trong trường đại học được đào tạo chuyên sâu mt lĩnh vực; quan hgiảng viên - sinh viên đã có nhiều thay đổi so với trước đây.Nhng hiện tượng bo lc học đường, tình trng hc trò đánh thầy, xúc phm thy, thy gtình, chèn ép, ly tin ca hc trò không chính đáng…cũng đã không còn xa ltrong môi trường đại học.Mối quan hệ giảng viên - sinh viên trong trường đại học cần được giải quyết như thế nào cho phù hợp với sự phát triển của xã hội hiện đại mà vẫn giữ được truyền thống “tôn sư trọng đạo” của dân tộc?Có quan niệm cho rằng: giữa giảng viên và sinh viên cần có một khoảng cách nghiêm túc, đủ để giữ uy thế của người thầy trước học trò và trên cơ sở đó, mọi mệnh lệnh của người thầy được thực hiện một cách tuyệt đối.Có quan niệm lại cho rằng: chỉ cần duy trì vị thế của người giảng viên trong phạm vi quan hệ nhà trường, còn trong quan hệ cuộc sống, giảng viên và sinh viên cần được bình đẳng với nhau. Lại cũng có quan niệm: giảng viên và sinh viên là sự phân công trách nhiệm xã hội, trong một khoảng thời gian và không gian nhất định, nhằm thực hiện mục tiêu đào tạo...Tất cả những quan niệm nêu trên, về thực chất cũng chỉ là những luận lý mang tính nguyên tắc, còn trong thực tiễn, mối quan hệ ấy thật phong phú, sinh động.

2.Quan niệm truyền thống về mối quan hệ thầy trò

Trong bất cứ thời đại nào, thì mối quan hệ giữa Thầy và Trò vẫn là một biểu hiện cao quý nhất của đạo đức xã hội nói chung và đạo đức học đường nói riêng: Kính trọng thầy, cô giáo (đạo đức học trò), thương yêu, giúp đỡ học trò (đạo đức thầy, cô giáo), luôn luôn là một thuộc tính phổ biến. Chỉ khác là, ở mỗi chế độ xã hội khác nhau, cách biểu hiện của mối quan hệ ấy thường được định chế trong những phạm vi nhất định, tùy thuộc vào nền tảng chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, nơi mà mối quan hệ Thầy - Trò tồn tại.

            Dưới chế độ phong kiến, (đặc biệt là phong kiến phương Đông và Việt Nam), mối quan hệ Thầy - Trò chịu sự ràng buộc bởi những nghi thức phong kiến khắt khe, giáo điều: một rằng thầy, hai rằng thầy...; không thầy đố mày làm nên...; công cha, nghĩa mẹ, ơn thầy...; nhất tự vi sư, bán tự vi sư...; muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy... Mối quan hệ Thầy - Trò trong xã hội phong kiến thường được biểu hiện thông qua một khuôn mẫu công thức, cố hữu.Tuy rằng, tác dụng tích cực của mối quan hệ đó là đã tạo nên một môi trường giáo dục nghiêm túc, đó cũng là một cơ hội tốt cho những học trò đích thực muốn "tầm sư, học đạo".

Mặt khác, giáo lý phong kiến cũng phân định rạch ròi địa vị của người thầy và học trò theo trật tự Quân - Sư - Phụ (Kính Vua, kính Thầy, sau mới kính Cha), còn mối dây liên hệ duy nhất giữa Thầy và Trò phổ biến vẫn là mệnh lệnh và phục tùng. Trong các học đường dưới thời phong kiến (kể cả trường công lập cũng như trường tư thục), những hình phạt hà khắc giành cho các trò học yếu kém, phạm quy, không chịu rèn luyện, tu dưỡng... luôn luôn là sự răn dạy về đạo đức học đường. Dĩ nhiên, đa số những học trò thành đạt, thường là những học trò có khả năng chịu đựng khổ hạnh, hòng mưu cầu mục đích là học cho hết "vốn chữ" của thầy.

Chính bởi sự tôn trọng của xã hội, của học trò đối với người thầy nên đã có nhiều người từ bỏ địa vị cao sang ở chốn quan đường để sống một cuộc đời thanh bạch nhưng cao thượng, làm người giáo viên dạy dỗ con em nhân dân lao động, nêu cao khí tiết và tinh thần dân tộc, yêu nước thương nòi. Thông qua những trường tư do họ mở ở các địa phương và với vai trò là những thầy “đồ”, họ đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao dân trí và đào tạo nhân tài cho đất nước. Nhân dân kính mến yêu thương họ, học sinh cảm  phục và biết ơn họ. Những tấm gương thầy giáo tiêu biểu soi sáng muôn đời sau như Chu Văn An( 1292 – 1370), Nguyễn Bỉnh Khiêm ( 1491 – 1585), Ngô Thế Vinh( 1803- 1856), Nguyễn Đức Đạt( 1825 – 1887), Nguyễn Văn Siêu (1796-1869); Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888)…Trong những giai đoạn khó khăn nhất của đất nước như: thời Pháp xâm lược vẫn có những người thầy giáo say mê, tận tuỵ với nghề, bên cạnh việc áp dụng những kinh nghiệm sư phạm phương Tây vào công tác dạy học, họ còn góp phần làm cho học sinh hiểu được cái hay, cái đẹp của tiếng mẹ đẻ, của nền văn chương Việt Nam, nuôi dưỡng tinh thần tự hào dân tộc, giữ gìn được lương tri của người dân mất nước. Họ cũng nêu tấm gương sáng về học lực uyên bác, về phương pháp sư phạm xuất sắc và lòng nhân hậu đối với học sinh. Những thầy giáo tiêu biểu như: Dương Quảng Hàm, Nguyễn Hữu Tảo, Đặng Thai Mai.... Cũng trong hoàn cảnh đất nước bị đô hộ, nhiều nhà giáo dục đã đứng lên đấu tranh, trở thành những tấm gương của ý chí tự cường, tinh thần độc lập tự do, yêu nước, căm thù giặc ngoại xâm như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh... Một số thầy giáo đã trở thành những chiến sĩ cách mạng đấu tranh không mệt mỏi cho độc lập dân tộc và bình đẳng xã hội, tiêu biểu nhất là thầy giáo Nguyễn Tất Thành.... Chính vì những tấm gương sáng cua những người thầy tận tụy với sự nghiệp giáo dục mà tinh thần tôn sư trọng đạo, nói một cách thiết thực hơn là hiếu học, trọng thầy của nhân dân ta luôn có những nét riêng biệt. Nhân dân, học sinh trọng thầy, biết ơn thầy vì gắn thành quả của thầy với thành quả của laođộng, “Không thầy đố mày làm nên”. (Nguyễn Thị Hiền, 2014)

3.Quan hệ giảng viên – sinh viên trong môi trường đào tạo đại học hiện nay

3.1 Một số biến đổi tích cực trong mối quan hệ giảng viên - sinh viên giai đoạn hiện nay

Ở cấp vĩ mô, ngành giáo dục đang thực hiện Nghị quyết 29-NQ/TW năm 2013 của Đảng về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục với những mục tiêu và cách tiếp cận mới mẻ. Theo đó, những xu hướng mới của giáo dục như "thầy thiết kế - trò thi công", "dạy học hợp tác" (giữa thầy và trò); "dạy học lấy học sinh làm trung tâm"... đều đặt học trò lên vị trí chủ thể của giáo dục.Người thầy đóng vai trò dẫn dắt, hướng dẫn, gợi mở cho trò tự tìm kiếm tri thức. Không những được tự do tranh luận, trò còn có thể trao đổi, chất vấn thầy. Riêng đối với đào tạo đại học, nghị quyết hướng tới mục tiêu: tập trung đào tạo nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, phát triển phẩm chất và năng lực tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạo của người học (Nguyễn Hiền, 2013). Từ định hướng này, mối quan hệ giảng viên – sinh viên trong môi trường đại học đã bước đầu được định hướng một cách sáng rõ trong giai đoạn hiện nay.

Mối quan hệ giảng viên - sinh viên trong môi trường đại học hiện nay có nhiều biến đổi tích cực trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ.Khi internet, mạng xã hội… trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống hiện đại, sinh viên tiếp cận bài giảng thông qua các phương tiện hiện đại như máy chiếu, qua phần mềm giảng dạy, email v.v. thay vì cách học đọc - chép truyền thống. Sinh viên “dân chủ” hơn, chủ động, tự do hơn trong việc lĩnh hội kiến thức, tri thức, đồng thời phản hồi lại những tri thức mà mình học được cho thầy cô, nhờ đó có thể tăng cường khả năng phản biện, phát triển tư duy độc lập và nâng cao tính sáng tạo ở mỗi người. Giảng viên trở thành người thầy đóng vai trò trợ giúp và hướng dẫn sinh viên cách tiếp cận nguồn tri thức, trở thành người hướng dẫn về mặt phương pháp là chủ yếu.Mối quan hệ mở trên mạng xã hội cũng giúp thầy - trò gần gũi hơn, cho phép trò thể hiện thái độ, tình cảm với thầy dễ dàng hơn; còn người giáo viên cũng trở nên gần gũi, thân thiện hơn trong mắt sinh viên.( Nguyễn Anh Tuấn, 2016 ). Đặc biệt tại một số trường đại học áp dụng hệ thống đào tạo theo tín chỉ có áp dụng mô hình đăng kí học phần online, sinh viên được chủ động lựa chọn giảng viên phụ trách môn học cũng là cơ sở quan trọng để xác lập quan hệ tốt đẹp giữa giảng viên và sinh viên, khi sinh viên có thể lựa chọn học tập những giảng viên mà mình yêu mến.

Cuối tháng 10-2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo khai trương hệ thống "trường học kết nối". Đây được xem như một "mạng xã hội" của ngành giáo dục, ở đó, mỗi học sinh và mỗi thầy cô được cấp một tài khoản truy cập miễn phí để trao đổi, sinh hoạt chuyên môn dạy và học. Với hình thức này, không gian trường học ngày nay đã mở rộng ra so với lớp học truyền thống. Sự phát triển của công nghệ đòi hỏi những mối quan hệ trong môi trường giáo dục, mà điển hình nhất là quan hệ thầy trò sẽ phải được xác lập theo kiểu mới, phù hợp thực tiễn.(Hoàng Thanh, 2014)

Bản thân các trường đại học cũng rất nỗ lực trong việc thúc đẩy quan hệ giảng viên – sinh viên, thậm chí đã có cả những bộ quy tắc ứng xử thầy – trò nhằm hướng tới mối quan hệ thầy trò minh bạch, trong sáng, lành mạnh được xây dựng và triển khai tại một loạt các trường đại học như: Học viện báo chí tuyên truyền, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông – Đại học Thái Nguyên, Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam, Đại học Kinh tế quốc dân. Trong đó, có những mục tiêu như: Xây dựng mối quan hệ thân thiện trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau và luôn sẵn sàng đối thoại thẳng thắn, cởi mở; biểu dương, tôn vinh, tri ân những tấm gương tốt trong xây dựng mối quan hệ thầy trò trong sáng, lành mạnh, minh bạch; không chấp nhận những hành vi vụ lợi, lợi dụng công việc; thầy luôn thể hiện sự minh bạch, trong sáng, công bằng, không thiên vị, không phân biệt đối xử; trò không sử dụng vật chất, tiền bạc và những mối quan hệ cá nhân đặc biệt nhằm mưu cầu sự thiên vị, mưu cầu lợi ích riêng tư...   Đến năm 2015, Thanh tra Chính phủ đã đưa “Xây dựng chuẩn mực mối quan hệ thầy trò minh bạch, trong sáng, lành mạnh góp phần xóa bỏ các tệ nạn, phòng, chống tham nhũng ở giảng đường Đại học - giai đoạn 2” vào danh sách 10 sáng kiến phòng, chống tham nhũng nên được phổ biến, nhân rộng (Thu Thắm, 2015)

Có thể thấy, sự biến đổi của thực tiễn xã hội đã tạo ra cơ hội cho việc xây dựng quan hệ giảng viên -sinh viên trong trường đại học ngày càng trở nên dân chủ, gần gũi hơn trong giai đoạn hiện nay.

3.2 Những vấn đề phát sinh cần giải quyết trong mối quan hệ giảng viên - sinh viên giai đoạn hiện nay

Trong giai đoạn hiện nay, không thể phủ nhận hiệu quả của việc tương tác qua mạng xã hội giữa thầy và trò đã đem lại, nhưng cũng không hiếm trường hợp nhiều sinh viên không biết “điểm dừng”, giới hạn trong quan hệ thầy - trò, dẫn đến tình trạng tự do quá trớn. Sự phát triển nhanh chóng và ảnh hưởng to lớn của mình mạng xã hội đã và đang tạo ra một sức ép vô hình với giảng viên trong các trường đại học hiện nay.Xã hội hiện nay dường như có cái nhìn khắt khe hơn đối với các nhà giáo và người giảng viên cũng chịu nhiều sức ép từ xã hội. Trong phương pháp giáo dục truyền thống, một số thầy cô xem hình phạt với học trò là cách tạo áp lực để giúp các em tiến bộ, thìhiện nay, hành động đó sẽ là đề tài nóng để dư luận bàn tán. Có quá nhiều phương tiện truyền thông giám sát hoạt động dạy học của thầy và trò. Chỉ với một chiếc điện thoại thông minh có camera, hay một chiếc máy ghi âm, một sai sót nhỏ của người giảng viên sẽ trở thành đề tài để những “anh hùng bàn phím” chê trách, gây áp lực không ít cho những người giảng viên chân chính khi đứng trên bục giảng, ảnh hưởng không nhỏ tới tâm lý, uy tín thầy, cô( Nguyễn Anh Tuấn, 2016 ).

Một quy luật tất yếu là quan hệ thầy - trò sẽ thay đổi khi xã hội nói chung và nền giáo dục nói riêng đang có nhiều thay đổi. Việc đào tạo những năm gần đây cũng có khuynh hướng “nhanh, nhiều, rẻ”, cụ thể là: Về mặt thời gian thì các cơ sở đào tạo đều cố gắng rút ngắn, phần lớn những ngành trước đây đào tạo 4 năm rưỡi hoặc 5 năm thì bây giờ đều rút lại còn 4 năm. Đó là NHANH.Về mặt quy mô tuyển sinh thì phần lớn các trường (cả công lập, bán công và dân lập) đều tìm cách khai thác hệ này hệ khác để tuyển sao cho được thật nhiều sinh viên để có nguồn kinh phí dồi dào. Đó là NHIỀU.Về tổ chức đào tạo thì nhiều nơi có hiện tượng dồn ghép lớp quá đông để tiết kiệm giảng đường, tiết kiệm thầy. Đó là RẺ.Khuynh hướng nhanh, nhiều, rẻ bộc lộ không chỉ từ phía cơ sở đào tạo mà cả từ phía người được đào tạo: Khi chọn trường, thí sinh có khuynh hướng lựa chọn những trường, ngành nào có thời gian đào tạo nhanh (để chóng ra trường) và học phí thấp (rẻ); trong thời gian học thì lại tranh thủ học thêm ở nhiều trường, chạy "sô" để kiếm nhiều bằng (Trần Ngọc Thêm, 2004). Chất lượng đào tạo sa sút, một số người lại cố tình hiểu sai lệnh hiện tượng này thành giảng dạy theo nhu cầu của xã hội hay lấy người học làm trung tâm.

Việc giảng dạy ở nhiều trường đại học hiện nay chú trọng hiều vào giảng dạy lý thuyết và rèn nghề, công tác giáo dục đạo đức có phần xao nhãng, đây cũng chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến quan hệ thầy – trò trở nên thiếu gắn kết. GS.VS Phạm Minh Hạc đã nói: “Chúng ta mới chú ý đến việc dạy chữ và một phần nào đó là dạy nghề, còn việc dạy làm người chưa được quan tâm thích đáng. Nhà trường cần thay đổi, các thầy cô giáo phải là tấm gương sáng về mặt đạo đức” (Phạm Minh Hạc, 2010). Giáo dục nhà trường thường nặng về lý trí truyền đạt một chiều mà nhẹ về tình cảm, tâm lý, phát huy tính chủ động của học sinh (Dương Phú Hiệp, 2012).

            Mối quan hệ giảng viên - sinh viên trong môi trường đại học hiện nay được xây dựng chủ yếu trên nguyên tắc lợi ích, cụ thể: Người học được trang bị những tri thức và kỹ năng nhất định và vì lợi ích này, người học phải đóng góp tài chính để góp phần tạo nguồn kinh phí trả lương cho người thầy, chi trả các phí tổn cho việc duy trì cơ sở đào tạo, v.v.; người dạy tham gia hoạt động giáo dục với tư cách người hành nghề, dạy học là một trong các loại nghề cần có những phẩm chất như trình độ tri thức, nhân cách đạo đức, v.v. Chính bởi mối quan hệ giảng viên – sinh viên được xây dựng trên cơ sở lợi ích, mà đôi khi có cả những lợi ích không chính đáng được thực hiện như theo khảo sát của sinh viên K50 Khoa Xã hội học, ĐH KHXHNV, ĐHQG Hà Nội về hiện tượng “chạy điểm” tại trường này vừa công bố cho thấy, hiện tượng “chạy điểm” đã và đang diễn ra rất phổ biến; đặc biệt là trong các ĐH, CĐ. Chỉ đến khi một số sinh viên dám thực sự đứng lên tố giác thì sự việc mới được xem xét và nhìn nhận lại một cách nghiêm túc.Một bộ phận không nhỏ trong sinh viên hiện nay coi việc học hành thi cử chỉ là chuyện hình thức, miễn sao có tiền thì giải quyết được hết.Mối quan hệ giảng viên – sinh viên cũng vì vậy mà có xu hướng ngày càng trở nên xấu đi. Sự tôn trọng của sinh viên đối với giảng viên không còn được như trước,điều này được biểu hiện qua một số hành vi vi phạm phổbiến của sinh viên hiện nay là gian lận trongthi cử, không tập trung họctập, giao tiếp kém, thiếu lễ phép; một số hành vi phạm với tỉ lệ thấp hơnnhưng có ảnh hưởng lớn đến tinh thần, thái độvà kết quả học tập của sinh viên đó là nghỉ học tự do, đi học muộn, sử dụng điện thoại trong giờ, nhờ người điểm danh, gây áp lực với giảng viên trẻ, ra vào lớp không xinphép (Phạm Kim Thoa, 2013).

Chính vì mối quan hệ giảng viên – sinh viên được xây dựng trên cơ sở lợi ích, vì những hiện tượng “con sâu bỏ rầu nồi canh” nên nghdy hc không còn vthế cao nht trong xã hội, người thy không còn nhn được nhng phép tc chào hi l phép, tôn trng từ người dân như xưa được xã hội đề cao, tôn vinh tht s. Đảng và Nhà nước ta luôn đề cao truyn thống “Tôn sư trọng đạo” của người Vittự bao đời, nhưng truyn thng ấy đang có xu hướng bmai mt, mt bphnkhông nhthế htrngày nay chbiết đến truyn thng ấy như một lí thuyếtsuông, mt bài học giáo điều trên lớp. Người thy va phi tìm kiếm các lp dy thêm va làm thêm nhng công vic khác mới đảm bo chi phí cho cuc sng hàng ngày, va phi chu nhiu áp lc từđịnh kiến xã hi về đạo đức, li sng, tác phong để gigìn hình nh đẹp vn có ca nghnghip.Song, phn ln họ đều không hi tiếc khi đã la chn nghnày, hvn mun tiếp tc gn bó lâu dài vi ngh, vẫn đam mê, yêu thích nghề khó làm nhưng thanh cao này.( Lê Thị Thu Diệu, Võ Thị Ngọc Lan, 2014).

Như vậy, bên cạnh những điểm tích cực trong mối quan hệ giữa giảng viên với sinh viên trong môi trường đại học, những biến đổi theo chiều hướng tiêu cực của mối quan hệ này cũng đã xuất hiện làm ảnh hưởng không nhỏ đến những nỗ lực của toàn xã hội và các trường đại học trong xây dựng môi trường văn hóa học đường.

4.Đề xuất một số giải pháp xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa giảng viên với sinh viên trong môi trường đại học

Một là, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng và tính cấp thiết của việc giáo dục văn hóa ứng xử nói chung, văn hóa ứng xử với thầy cô giáo nói riêng cho học sinh, sinh viên, phải thực sự xem đây là một trong những vấn đề cơ bản trong thực hiện mục tiêu giáo dục cao đẳng, đại học.

Thứ hai, các tổ chức, đoàn thể trong trường đại học phải đưa vấn đề giáo dục văn hoá ứng xử cho học sinh, sinh viên vào một trong những nội dung giáo dục chính trị tư tưởng và đạo đức lối sống cho học sinh, sinh viên; phải tăng cường quản lý chặt chẽ hơn, sâu sát hơn đối với học sinh, sinh viên; phải có sự tổng kết, đánh giá văn hoá ứng xử của học sinh, sinh viên trong khoa, đồng thời có biện pháp xử lý, uốn nắn những lệch lạc về chuẩn mực ứng xử với cán bộ, giảng viên ở sinh viên.

Thứ ba, phát huy vai trò của Đoàn thanh niên, Hội sinh viên đối với vấn đề giáo dục văn hoá thông qua việc tổ chức những buổi nói chuyện, những diễn đàn, câu lạc bộ về vấn đề này hay lồng ghép vào các cuộc thi, các hội diễn văn hoá văn nghệ hay sinh hoạt truyền thống.

Thứ tư, chú trọng bồi dưỡng năng lực, phẩm chất đạo đức, nhân cách của người giảng viên.Người giảng viên không chỉ dạy kiến thức mà còn dạy sinh viên cách làm người.Vì vậy, phải dùng nhân cách của mình để giáo dục nhân cách người học. Muốn vậy, trước hết bản thân người thầy phải luôn tu dưỡng đạo đức, nâng cao năng lực chuyên môn, luôn phải làm “kiểu mẫu” về mọi mặt, có như vậy thì mới có tác dụng giáo dục. Giảng viên phải tôn trọng, hợp tác, dân chủ trong quan hệ với sinh viên, thừa nhận giá trị của mỗi em như là một nhân cách đang hình thành và phát triển, tôn trọng cá tính và bí mật riêng tư của sinh viên, không dùng lời nói hay hành vi xúc phạm làm ảnh hưởng đến sinh viên. Tuy nhiên, thu hẹp khoảng cách không có nghĩa là “cào bằng”, “thầy không ra đạo thầy, trò không phải đạo trò” mà mục đích quan trọng nhất là tạo ra bầu không khí tâm lý thoải mái tích cực, cách giải quyết vấn đề phù hợp để giúp các em cân bằng tâm lý, suy nghĩ, hành vi tích cực…

Thứ năm, bản thân mỗi học sinh, sinh viên phải nâng cao ý thức rèn luyện, tu dưỡng đạo đức và lối sống, xây dựng văn hoá ứng xử theo những chuẩn mực tốt đẹp cho mình. Trước hết trong quan hệ giao tiếp, làm việc (học tập, nghiên cứu) với thầy cô giáo phải thể hiện được thái độ, lời nói, hành động lễ phép, tôn trọng, trân trọng thầy cô, đồng thời cũng phải biết góp ý, phê bình và chỉ ra những thái độ, lời nói, hành vi chưa đẹp, chưa “tôn sư trọng đạo” ở một số sinh viên khác, nhất là những bạn bè trong lớp mìn


TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1.Lê Thị Thu Diệu, Võ Thị Ngọc Lan, 2014, Thực trạng vị thế của người thầy trong xã hội trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, Tp chí Khoa học đại học khoa học sư phạm TP. Hồ Chí Minh,Số 63

2.Phạm Minh Hạc, 2010, Một số vấn đề giáo dục Việt Nam đầu thế kỷ XXI, NXB GDVN, tr.562).

3.Dương Phú Hiệp, 2012, Bạo lực học đường nhìn từ quan hệ thầy – trò, http://www.giaoduc.edu.vn/bao-luc-hoc-duong-nhin-tu-quan-he-thay-tro.htm

4.Nguyễn Anh Tuấn, 2015, Vài suy nghĩ về tình thầy trò thời hiện đại, http://noichinh.vn/ho-so-tu-lieu/201508/xay-dung-chuan-muc-moi-quan-he-thay-tro-minh-bach-trong-sang-lanh-manh-gop-phan-xoa-bo-cac-te-nan-phong-chong-tham-nhung-o-giang-duong-dai-hoc-298444/.

5.Nguyễn Thị Hiền, 2014,Vai trò của người thầy giáo trong xã hội hiện đại, http://caodangvinhphuc.edu.vn/vi/news/doi-tac/vai-tro-cua-nguoi-thay-giao-trong-xa-hoi-hien-dai-14/

6.Nguyễn Hiền, 2013, 9 giải pháp đổi mới toàn diện giáo dục, http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/9-giai-phap-doi-moi-toan-dien-giao-duc-148112.html

7.Phạm Kim Thoa, 2013, Khảo sát thực trạng văn hóa ứng xử của sinh viên trường Đại học công nghệ thông tin và truyền thông, đại học Thái Nguyên, Tạp chí Khoa học và công nghệ, số 121(07).

8.Trần Ngọc Thêm, 2004, “Phương pháp dạy-học, kiểm tra, đánh giá các môn khoa học xã hội và nhân văn” , kỷ yếu hội thảo khoa học do Ban liên lạc các trường đại học và cao đẳng Việt Nam tổ chức. NXB Lý luận chính trị, 2004.

9.Hoàng Thanh, 2014, Thầy và trò trong xã hội hiện đại, https://baomoi.com/thay-va-tro-trong-xa-hoi-hien-dai/c/15281186.epi.

10.Thu Thắm, 2015, Xây dựng chuẩn mực mối quan hệ thầy trò minh bạch, trong sáng, lành mạnh góp phần xóa bỏ các tệ nạn, phòng, chống tham nhũng ở giảng đường Đại học,http://noichinh.vn/ho-so-tu-lieu/201508/xay-dung-chuan-muc-moi-quan-he-thay-tro-minh-bach-trong-sang-lanh-manh-gop-phan-xoa-bo-cac-te-nan-phong-chong-tham-nhung-o-giang-duong-dai-hoc-298444/.

11. Nguyễn Anh Tuấn, 2016, Vài suy nghĩ về tình thầy trò thời hiện đại, http://noichinh.vn/ho-so-tu-lieu/201508/xay-dung-chuan-muc-moi-quan-he-thay-tro-minh-bach-trong-sang-lanh-manh-gop-phan-xoa-bo-cac-te-nan-phong-chong-tham-nhung-o-giang-duong-dai-hoc-298444/