BÀN VỀ VIỆC SỬ DỤNG NGÔN NGỮ GIAO TIẾP CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY

 

BÀN VỀ VIỆC SỬ DỤNG NGÔN NGỮ GIAO TIẾP CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY

Nguyễn Thị Ngân, Trịnh Thị Ngọc Anh

Bộ môn Luật - Khoa LLCT và XH - Học viện NNVN

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Giao tiếp là điều kiện tồn tại của con người, thông qua giao tiếp cá nhân gia nhập vào các mối quan hệ xã hội, tiếp thu nền văn hoá xã hội lịch sử, biến nó thành cái riêng của mình, đồng thời cũng góp phần vào sự phát triển văn hoá chung. Xã hội phát triển, khoa học kỹ thuật càng hiện đại càng ảnh hưởng đến hành vi, sự suy nghĩ và cuộc sống con người nên mối quan hệ giữa con người với con người càng được quan tâm, vì thế giao tiếp được xem là vấn đề thời sự trong nhiều lĩnh vực, nhất là những lĩnh vực làm việc trực tiếp với con người như giáo dục, dạy học, ngoại giao… Ngày nay giao tiếp là phương tiện để con người hợp tác cùng nhau, hướng tới mục đích bình đẳng, hạnh phúc. Nhu cầu giao tiếp là nhu cầu quan trọng của con người. Để thỏa mãn nhu cầu giao tiếp và tiến hành giao tiếp có kết quả, con người cần có kỹ năng giao tiếp.

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của ngôn ngữ, sự giao thoa giữa các nền văn hóa và cơn lốc phát triển, hội nhập nền kinh tế trên thế giới cũng đã tạo ra một thế giới ảo - thế giới mạng Internet - nơi mà giới trẻ nói chung và đội ngũ sinh viên nói chung sử dụng một thứ ngôn ngữ riêng, thứ ngôn ngữ “không đụng hàng” mà chúng ta thường hay gọi đó là “ngôn ngữ tuổi teen”, “ngôn ngữ thời @”, “tiếng Việt trong ngoặc kép” hay “ngôn ngữ sinh viên”... Hiện nay loại ngôn ngữ này đã, đang và sẽ lan truyền ngày càng rộng rãi trong giới trẻ, đặc biệt là giới sinh viên. Nhiều người cho rằng chẳng thể hiểu nổi sinh viên nghĩ gì và viết những gì trên các chatroom, blog, các diễn đàn dành cho họ... Chính vì thế, đã có không ít các ý kiến trái chiều về việc sử dụng loại ngôn ngữ này xuất hiện nhiều trên các mặt báo, các phương tiện thông tin đại chúng và ngay cả trên các diễn đàn tuổi trẻ. Kiểu sử dụng ngôn ngữ này lan tràn hầu hết trên các diễn đàn, nhật kí trực tuyến nhất là khi tán gẫu qua mạng, tin nhắn điện thoại. Đối tượng sử dụng chủ yếu là giới trẻ trong đó phần lớn là sinh viên. Mối nguy hại lớn chính là ngôn ngữ này lan vào nhà trường một cách âm thầm. Kiểu ngôn ngữ khó hiểu như vậy hiện đang được sinh viên sử dụng ngày càng phổ biến trong việc giao tiếp, nó xa lạ với tiếng phổ thông và cũng chẳng giống với một ngôn ngữ nào trên thế giới. Nó bao gồm những ký hiệu phức tạp, tiếng lóng, xen lẫn ngoại ngữ và đặc biệt là nhiều từ được viết theo âm đọc, nhưng lại bị biến tướng một cách cực kỳ sai chính tả. Văn hóa ngôn ngữ của ấy còn gọi là “ngôn ngữ teen, ngôn ngữ sinh viên” đang là vấn đề nóng trong xã hội, tuy nó không ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế hay tính mạng con người nhưng về lâu dài nó sẽ hủy hoại đến nền văn hóa của quốc gia chúng ta. Từ tầm quan trọng và thực tiễn trên chúng tôi lựa chọn nội dung: Bàn về việc sử dụng ngôn ngữ giao tiếp của sinh viên hiện nay.

2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

2.1. Thực trạng văn hóa ngôn ngữ giao tiếp ở giới trẻ hiện nay

Khi xã hội phát triển, quyền tự do ngôn luận của con người ngày càng được bảo vệ. Bên cạnh việc sử dụng ngôn ngữ hay, đẹp, giầu tính văn chương thì cũng nảy sinh vấn đề lệch chuẩn trong giao tiếp, đặc biệt phổ biến với giới trẻ nói chung và sinh viên nói riêng. Xu hướng lệch chuẩn văn hóa ngôn ngữ biểu hiện dưới nhiều dạng khác nhau. Một thực trạng cho thấy ngày nay năng lực sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp của sinh viên rất kém. Tình trạng này còn biểu hiển cả trong học tập. Không những sử dụng không đúng chức năng ngôn ngữ mà lối giao tiếp còn bộ lộ sự thô lỗ, thiếu lịch sự tế nhị. Sinh viên ngày nay làm dụng quá nhiều tiếng lóng, tiếng bồi trong giao tiếp. Điều này trước đây ít thấy hoặc không thấy xuất hiện. Việc giao tiếp kém còn thể hiện cả bằng hành vi và lối sống.

Không thể đổ lỗi cho quá trình hội nhập quốc tế hay sự phát triển công nghệ thông tin. Trước đây, khi nền văn hóa phương Tây ồ ạt xâm nhập vào nước ta thông qua các nhà truyền giáo, người Pháp hay người Mỹ, có làm cho ngôn ngữ giao tiếp nước ta thay đổi nhưng theo chiều hướng tích cực. Nó bổ sung vào hệ thống từ vựng và làm trong sáng thêm Tiếng Việt dựa trên các nguyên tắc chuẩn mực. Còn ngày nay, với ý thức sử dụng ngôn ngữ tùy tiện, cẩu thả, thiếu trách nhiệm của sinh viên làm cho ngôn ngữ giao tiếp bị xáo trộn, tối nghĩa, thậm chí còn dung tục.

Có thể đưa ra một vài minh chứng rõ ràng về hiện tượng này. Thay vì nói “đồng ý” sinh viên lại dùng “ok”“tình yêu” thành “tềnh iu”, biến đơn vị ngàn trong tiền tệ thành “k”. Chê bai ai thì gọi là “cùi bắp”“cục gạch”“sến”. Lại còn lối bắt chước thành ngữ tạo nên những cụm từ vô nghĩa như: “chán như con gián”“ghét như con bọ chét”“nhỏ như con thỏ”“xinh như yêu tinh” Hay lối chơi chữ dung tục, khiếm nhã như: “tốc độ bàn thờ” (tốc độ chết người), “báo lá cải” (tờ báo tự phát), “tin vịt” (không đáng tin cậy), “óc chó” (ngu ngốc), “hại não” (khó hiểu), “thiếu muối” (ngu dốt),

Lại còn có kiểu ghép từ nửa tây nửa ta hết sức khập khiễng: “Ugly tiger” (xấu hổ), “bye nhé” (tạm biệt), “4U” (For you là cho bạn), “2NT” (Tonight tối nay), “G92U” (Good night to you). “y2k” (thế hệ năm 2000) …

Không những thế, sinh viên ngày nay còn nảy sinh lối viết tắt hết sức buồn cười: “dzạy là zui ròi đó”“bjo mk di dau”“vk ck vs nhau ko nen to tieng”“m wen no tu bjo”

Bên cạnh tiếng lóng, tiếng bồi, lối viết tắt còn xuất hiện vấn đề chửi tục, nói bậy không chỉ khiến cho tiếng Việt bị vẩn đục mà còn đáng báo động nữa là tình trạng giới trẻ sử dụng “ký hiệu” đang trở nên phổ biến. Việc các bạn sinh viên dùng ký hiệu tràn lan, “tây, ta” lẫn lộn khiến cho cả các nhà ngôn ngữ học cũng phải “bó tay”. Trong thời đại thông tin hiện nay, việc sử dụng các ký hiệu đơn giản là không sai. Nhưng điều đáng nói là họ đã lầm lẫn khi biến nó thành ký hiệu chung để nói hoặc viết ở mọi nơi, mọi lúc. Tiếng Việt đang bị bóp méo và xâm phạm đến đáng sợ. Tương lai của nó sẽ đi đến đâu, dưới bàn tay của “sinh viên”, những chủ nhân tương lai của đất nước. Từ “bóp méo” ở đây mang cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Những thực tế làm chúng ta cảm thấy thương cho ngôn ngữ của dân tộc Việt Nam… - Tiếng Việt bị vẩn đục, bị lạm dụng: Từ xưa, ông bà đã chú trọng rèn dạy lời ăn tiếng nói, rằng “tiên học lễ, hậu học văn”, “học ăn, học nói, học gói, học mở”. Khi còn đi học, việc không nói tục, chửi thề là một trong những tiêu chuẩn thi đua hạnh kiểm ở trường. Vậy mà hiện nay, nhiều người có trình độ văn hóa đang tự biến mình thành người thiếu văn hóa. Khi nói tục, chửi thề, các em học sinh đang cố tình làm vấy bẩn tiếng Việt vốn vô cùng đẹp đẽ và thiêng liêng. Chắc chắn ai cũng phải thừa nhận rằng chuyện chửi thề, văng tục là một thói xấu, không văn hóa. Thế nhưng lại có không ít các bạn sinh viên thường xuyên có những “phát ngôn khiến nhiều người phải giật mình và cảm thấy khó chịu, hơn hết là lo lắng rằng văn minh của họ ngày càng “ngắn” dần. Nhiều bạn sinh viên coi chửi bậy là sành điệu, không văng tục nói không lưu loát.  Khi bực dọc một vấn đề nào đó họ chửi; bị điểm kém: chửi; không thích đứa bạn ngồi cùng bàn: chửi; không đến được buổi hẹn với bạn bè: chửi, thậm chí còn chửi yêu để bày tỏ tình cảm. Trong các câu chuyện phiếm và cả chuyện nghiêm túc, sinh viên cũng vận dụng triệt để từ bậy thay thế câu thông thường. Họ coi việc chửi bậy là để xả stress, xả bức xúc, thể hiện cảm xúc…, ai không biết chửi sẽ rất “quê”. "Chửi bậy" đã trở thành chủ đề nóng trên nhiều diễn đàn của các trường, học viện trên các trang blog. Vấn đề này đã được tranh luận rất thẳng thắn và đã có rất nhiều ý kiến trái chiều. Một số sinh viên tỏ ra ủng hộ, thông cảm, thậm chí coi chửi bậy là “một phần tất yếu”. Nhưng cũng có một vài ý kiến tỏ ra hoài nghi, lo lắng,

Bên cạnh đó sinh viên còn sử dụng phổ biến tiếng Việt không dấu: Đơn giản là những kiểu viết không có dấu thanh. Nhiều người nghĩ viết thế cho nó nhanh gọn nhẹ, vả lại biết tiếng với nhau cả rồi, chẳng lẽ không dịch được? Nhưng hãy nghĩ lại: ví dụ như dòng chữ không dấu dưới đây: “Ban that la dam dang” – nên hiểu “Bạn thật là đảm đang” hay “Bạn thật là dâm đãng” đây??? Một tập hợp những con chữ không có dấu, phải dịch chán mới hiểu. Hay một nữ sinh viên nhắn cho bạn: “Tau pun ngu we” (Tao buồn ngủ quá). Tin nhắn trả lời: “Bit oj, mey mep nhu heo hem bik seo pun ngu lu’m tje?” (Biết rồi, mày mập như heo không biết sao buồn ngủ lắm thế). - Sự biến dạng của những từ ngữ, chữ viết: Qua tìm hiểu được biết đây là “mốt” ngôn ngữ riêng của giới trẻ. Đọc một đoạn tin nhắn trên điện thoại di động, lướt qua vài trang blog hoặc diễn đàn của giới trẻ, dễ dàng bắt gặp những mẩu đối thoại khác người. Thật là nực cười cho những kiểu viết quái gở: từ “rồi” viết thành “roài”, “không” thành “hông”, “hem”, “biết” thành “bít”. Ồ, hãy thử lắp vào một câu xem: “The la cau hem bit roai, hihi” Nhưng, đó chỉ là những kiểu thay đổi “sơ khai”. Hẳn trí tuệ luôn luôn phát triển và họ dành nó để cho ra đời những đứa con tinh thần quái gở hơn, từ “bóp méo” đến lúc này đã có thể dùng theo nghĩa vốn có của nó. Chữ “a” viết thành 4, chữ e viết thành 3, i thành j, g đổi sang 9, o thành 0, c thành k, b thành p …

Hiện nay Internet, điện thoại di động đang lan truyền toàn cầu, từ thành thị tới thôn quê, thậm chí cả vùng sâu vùng xa nữa, mà đa số sinh viên sử dụng điện thoại thông minh. Vì vậy, sinh viên có thể kết nối với nhau mọi lúc, mọi nơi, và họ học hỏi, cập nhật ngôn ngữ cho nhau rất nhanh. Ngôn ngữ @ nhanh chóng có thể lan truyền khắp nơi và tạo ra một làn sóng mạnh mẽ. Phải chăng đó là sự ô nhiễm ngôn ngữ trong tiếng Việt. Ngôn ngữ @ đã đi quá giới hạn của văn hóa tiếng Việt.

Học cái tốt thì rất khó, nhưng học điều xấu thì lại rất dễ bởi “nghe quen tai, nói quen miệng”. Những ví dụ kể trên chỉ là một trong rất rất nhiều những hành vi xấu về ngôn ngữ trong giao tiếp của một bộ phận sinh viên hiện nay. Ông bà ta từng dạy con cháu rằng: “Học ăn, học nói, học gói, học mở”, lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau… Đáng buồn là một bộ phận sinh viên hiện nay, những người là chủ nhân tương lai của đất nước đã và đang làm “biến dạng” đi truyền thống tốt đẹp của cha ông.

2.2. Hậu quả của việc sử dụng ngôn ngữ tùy tiện trong giao tiếp của giới trẻ hiện nay:

Nhiều kiểu nói và viết như vậy dần làm mất đi sự trong sáng của Tiếng Việt. Hiện tượng ấy còn gây ảnh hưởng nguy hại đối với văn hóa ứng xử của con người. Có thể nói trong những năm gần đây, Tiếng Việt mà một bộ phận sinh viên sử dụng đã đánh mất đi sức mạnh biểu đạt của mình. Nhiều từ ngữ tốt đẹp không còn được sử dụng nữa. Thay vào đó là lớp từ ngữ mới có kết cấu ngữ pháp lỏng lẻo. Ý nghĩa lời nói thiếu rõ ràng, trong sáng. Cách sử dụng ngôn ngữ cẩu thả, tùy tiện không phù hợp với hình thức giao tiếp. Từ đó hàm nghĩa cũng không mấy tích cực.

Tiếng Việt đang bị nhiễm bẩn bởi nói tục, chửi bậy. Hiện tượng nói tục thì quốc gia nào cũng có. Nhưng nước ta có lẽ chiếm tỷ lệ cao nhất. Nói tục trở thành thói quen, nhu cầu, sự “khoái khẩu” ở mọi đối tượng, trừ trẻ chưa biết nói. Đặc biệt là trong lứa tuổi sinh viên đa số các em sống xa gia đình, các em sử dụng lâu dần thành thói quên xấu khó sửa lại không có người thân bên cạnh nhắc nhở nên vấn đề nói tục chửi thề đang bị lạm dụng đến mức đáng báo động trong một bộ phận sinh viên. Họ lợi dụng những từ ngữ mới đểu trêu đùa hay xúc phạm nhau một cách quá đáng. Chẳng hạn như “đm”, “v*”, “đm*”, “sm*”, “tđ*”, … Hàm nghĩa của từ mới này chưa được xác nhận nên việc hiểu nó đối với nhiều người còn khá hạn chế.

Nói bậy, chửi thề có thể do sinh viên thấy người xung quanh nói nhiều, lại không được ai nhắc nhở rằng việc đó là sai trái, nên cứ quen miệng học theo. gần như, sinh viên hiện nay đã miễn nhiễm với hiện tượng này. Họ thấy nó quen tai, thấy thú vị, cũng muốn làm theo.

Việc sử dụng ngôn ngữ thiếu chuẩn mực trong giao tiếp ngiêm trọng hơn còn làm nảy sinh bạo lực trong xã hội. Chỉ vì lời nói mà làm nảy sinh mâu thuẫn, dẫn đến nhiều cuộc xung đột quyết liệt để lại hậu quả đáng tiếc. Theo thống kê của các cơ quan chức năng, hơn 60 số vụ đánh nhau hiện nay có liên quan đến vấn đề lời nói.

Tóm lại, trước trào lưu sử dụng tiếng lóng, lạm dụng tiếng nước ngoài hiện nay ở giới trẻ khiến tiếng Việt đang có nguy cơ bị xâm hại xét về phương diện văn hóa ngôn ngữ. Tuy nhiên cũng phải thừa nhận rằng, việc sử dụng tiếng lóng cũng có tác dụng nhất định đối với sinh viên như: khả năng truyền đạt thông tin nhanh, tiết kiệm thời gian (chủ yếu dùng ký hiệu, viết tắt), có những yếu tố sáng tạo…làm cho hoạt động giao tiếp cũng phong phú hơn.

2.3. Nguyên nhân sử dụng ngôn ngữ tùy tiện trong giao tiếp của giới trẻ:

Do sự phát triển của các phương tiện thông tin đại chúng. Trước hết là truyền hình. Đây là loại phương tiện thông tin đại chúng phổ biến nhất trong xã hội. Truyền hình ảnh hưởng lớn nhất đối với sự hình thành các giá trị, thế giới quan, đạo đức của thế hệ trẻ. Các kênh truyền hình góp phần phát tán các trường hợp lệch chuẩn trong giao tiếp ngôn ngữ. Mục đích là tạo ra sự khác lạ để thu hút người xem. Việc tiếp cận các văn hóa phẩm lệch lạc dễ dàng khiến cho giới trẻ mất kiểm soát bản thân. Từ đó, có những hành vi lệch chuẩn sau một thời gian tiếp cận nó.

Một số tờ báo cũng đang ra sức cổ xúy cho sự lệch lạc văn hóa ngôn ngữ ở giới trẻ qua những bài viết lạm dụng một cách có ý thức nhằm câu khách, gây ấn tượng đối với độc giả trẻ. Đặc biệt là hiện tượng ăn theo sự kiện, vụ lợi của các kênh truyền hình vô tình biến một hình tượng lệch lạc trở thành trào lưu nóng, thu hút giới trẻ quan tâm và bắt chước.

Mặt khác, các nhạc phẩm của các ban nhạc, lời của các bài hát có khả năng gây sosk ở bất kỳ một người có học vấn nào. Các nhà quảng cáo bán hàng cũng lợi dụng tiếng lóng, tiếng bồi, tiếng ghép để thu hút người tiêu dùng. Đó là nguyên nhân chủ yếu tạo nên xu thế ngôn ngữ lệch chuẩn này.

Sự buông lỏng, thiếu sự quản lý chặt chẽ các trang báo mạng xã hội và các thông tin quảng cáo. Người tham gia không cần biết người đối thoại là ai. Họ sẵn sàng văng lời tục tĩu, thô thiển để thóa mạ, dìm “hàng” người khác.

Sự bùng nổ của công nghệ thông tin là mảnh đất để lệch chuẩn văn hóa ngôn ngữ có cơ hội phát triển (Internet, điện thoại…). Bởi giao tiếp gián tiếp nên người nói rất mạnh miệng, không hề nể sợ, tôn trọng hay giữ phép lịch sự đúng mức nên ngôn ngữ có phần quá đáng.

Trào lưu, “mốt” sử dụng tiếng lóng, tiếng nhại, ngoại ngữ, ngôn ngữ @ để giao tiếp trở thành yếu tố để muốn tự khẳng định đẳng cấp của mình đang xâm nhập và lan tỏa ở giới trẻ hiện nay.

2.4. Giải pháp khắc phục hiện tượng sử dụng ngôn ngữ tùy tiện trong giao tiếp của giới trẻ:

Các bạn sinh viên cần tham gia, giao lưu, trao đổi nhiều hơn trong những môi trường tích cực như trường, lớp, đoàn, hội. Trau dồi vốn hiểu biết về ngôn ngữ, văn hóa của dân tộc. Tiếp thu những yếu tố mới trên cơ sở có xem xét chọn lọc không cổ xúy, chạy theo những xu hướng mà ngay chính bản thân cũng chưa hiểu chưa rõ. 

Các diễn đàn (forum) cần xây dựng nội quy, quy chế rõ ràng, có cơ chế quản lý phù hợp. Hướng diễn đàn đến những nội dung giao tiếp lành mạnh. Cần xây dựng những hạt nhân tiêu biểu nhằm thu hút thành viên của diễn đàn học hỏi, noi theo những chuẩn mực mà những thành viên tiêu biểu tạo ra.

Gia đình cần sự quan tâm chia sẻ từ các bậc phụ huynh. Nên xem con em mình như những “người bạn” để hiểu được tâm tư nguyện vọng của giới trẻ, sinh viên hiện nay, và đưa ra những lời khuyên một cách thiết thực nhất. Tạo cho các em có một môi trường ngôn ngữ lành mạnh từ nhỏ, giúp các em hình thành những thói quen sử dụng ngôn nhữ tốt. Giúp các em có nhiều cơ hội được tiếp xúc giao lưu học hỏi, cũng như trạng bị những hiểu biết văn hóa, ứng xử ngay từ chính những hoạt động, sinh hoạt trong gia đình. Để đến khi các em trở thành sinh viên, xa gia đình sống độc lập các em ý thức hơn không bị ảnh hưởng bởi ngôn ngữ xấu, thiếu lành mạnh.

Thầy cô - những người có ảnh hưởng trực tiếp đến các bạn sinh viên, những người định hướng, giúp các em hoàn thiện vốn ngôn ngữ của mình cần phải là những tấm gương về sử dụng ngôn ngữ, kiến thức ngôn ngữ. Bản thân thầy cô cũng cần sử dụng những ngôn ngữ có tính chuẩn mực cao. Thường xuyên thiết lập các kênh đối thoại để từ đó khích lệ, nhắc nhở hay chấn chỉnh hoạt động ngôn ngôn ngữ của học sinh.

Nhà trường cần định hướng cho sinh viên những giá trị tốt đẹp của tiếng Việt từ đó nâng cáo ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Tạo thêm nhiều cơ hội, tổ chức những cuộc thi, tạo môi trường tích cực, phát huy cũng như khích lệ tinh thần học hỏi để các em nói và làm theo lời hay ý đẹp. Bên cạnh đó cũng cần có những biện pháp để chấn chỉnh những sinh viên đi ngược lại xu thế đó.

Các cơ quan thông tin truyền thông cần xây dựng cách nói, viết chuẩn mực góp phần định hướng xã hội. Cần có thái độ cầu thị kiên quyết chống lại những cách diễn đạt lệch chuẩn, những xu hướng không phù hợp làm mất đi sự trong sáng và chuẩn hóa của tiếng Việt. Từ đó, giúp sinh viên có được định hướng đúng đắn.

3. KẾT LUẬN

Nhìn lại chặng đường phát triển của Tiếng Việt từ thủa dựng nước, giữ nước đến nay, trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử, với không ít mưu đồ đồng hóa nhưng Tiếng Việt không những không bị đồng hóa mà còn phát triển ngày càng hoàn thiện đảm đương tốt vài trò là ngôn ngữ văn hóa dân tộc, chúng ta thấy được sức sống mạnh mẽ của một ngôn ngữ đã là niềm tự hào của biết bao thế hệ - ngôn ngữ ấy không dễ dàng để mất đi bản sắc của mình. Bởi thực tế ngôn ngữ có quy luật phát triển của riêng nó. Việc tiếp thu những cái mới và xóa bỏ, loại trừ những yếu tố không phù hợp luôn là hai phép cộng và trừ gắn liên với quy luật phát triển của mỗi ngôn ngữ. Một cá nhân không thể thay đổi được ngôn ngữ nhưng cộng đồng, xã hội đó có thể định hướng cho ngôn ngữ đó phát triển như thế nào. Điều đó, không nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người. Một quốc gia có chính sách ngôn ngữ tốt sẽ giúp cho ngôn ngữ của quốc gia đó lớn mạnh và vì vậy, khi nói đến ngôn ngữ của một “tầng” “lớp” nào đó trong xã hội, nó sẽ không nằm ngoài xu hướng chung của ngôn ngữ xã hội đó. Vì thế, cần có một nỗ lực chung của cả cộng đồng, ngôn ngữ không riêng gì nhà trường, gia đình, hay bản thân các bạn sinh viên.

Như vậy, vấn đề văn hóa ngôn ngữ và giáo dục văn hóa ngôn ngữ cho thế hệ trẻ nhất là cho sinh viên trong giai đoạn hiện nay trở thành vấn đề cấp bách, cần sự chung tay của các lực lượng xã hội. Trong đó bản thân sinh viên, chủ thể của nhận thức và hành động đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc góp phần giữ gìn sự trong sáng và giàu đẹp của tiếng Việt trên cơ sở “kế thừa và phát huy truyền thống đi đôi với việc sáng tạo những giá trị mới phù hợp với tinh thần thời đại” như nghị quyết hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành trung ương khóa XII của Đảng đã chỉ rõ.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Trần Trí Dõi: Chính sách ngôn ngữ văn hoá dân tộc ở Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội 2003.

2.Cao Xuân Hạo:  Tiếng Việt - văn Việt – người Việt, Nxb Trẻ, Tp HCM 2001.

3.PGS, TS Đặng Đình Bôi, Bài giảng kỹ năng giao tiếp, NXB trẻ TPHCM 2010

4.Phạm Hồng Tung, Văn hóa và lối sống của thanh niên Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế - Một số vấn đề lý thuyết và cách tiếp cận, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Xã hội và Nhân văn, số 24, Hà Nội, 2008.

5.Ngô Thị Minh, Khi giới trẻ biến hóa tiếng Việt, baokhanhhoa.com.vn, 2012.

6. Nguyễn Thị Phương Châm, Internet: mạng lưới xã hội và sự thể hiện bản sắc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2013.

7..Hồng Hạnh: “Giải mã” ngôn ngữ @ của tuổi teen, http://dantri.com.vn/c135/s135-458516/giai-ma-ngon-ngu--cua-tuoi-teen.htm

8.Nguyễn Văn Toàn: Tiếng Việt đang bị bụi bám,

http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/tuanvietnam/71742/tieng-viet-dang-bi----bui-bam-.html